DIỄN ĐÀN KỸ THUẬT VIỆT ĐỨC - KIỂU MẪU
CHÀO MỪNG CÁC BẠN TRỞ VỀ MÁI TRƯỜNG XƯA ...

khí phế thủng là gì

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

khí phế thủng là gì

Bài gửi by TuanCan on 5/4/2010, 22:39

Khí phế thủng


Một người đang ở độ tuổi gặt hái nhiều thành công, làm việc “đầu óc” nên hút
thuốc lá hơi nhiều. Gần đây, anh ấy có cảm giác khó thở và hay ho. Anh đi khám
bác sĩ, được chụp X quang phổi và được biết là bị… thủng phổi!
Khí
phế thủng là gì?

Sự thực thì người này không phải bị thủng phổi mà
là bị khí phế thủng.
Khí phế thủng là tình trạng mà vách các phế nang trong
phổi mất tính co giãn. Các phế nang trở nên yếu và dễ vỡ. Tính đàn hồi của mô
phổi mất đi khiến cho không khí bị bắt giữ trong phế nang, làm giảm khả năng
trao đổi oxygen và khí CO2. Cũng vậy, khả năng “mở” của phế quản bị mất đi, gây
ra sự tắc nghẽn đường dẫn khí.
Triệu chứng biểu hiện của khí phế thủng bao
gồm khó thở, ho và giới hạn hoạt động thể lực. Khí phế thủng và viêm phế quản
mạn tính, cùng nhau tạo nên bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(COPD).
Nguyên nhân khí phế thủng là gì?
Hút thuốc lá là
nguyên nhân chính gây nên khí phế thủng. Một nguyên nhân khác gây khí phế thủng
là thiếu một loại protein “bảo vệ phổi”, gọi là alpha 1- antitrypsin (AAT). Ở
Việt Nam chưa có con số thống kê số người bị thiếu AAT, nhưng ở Mỹ ước tính có
khoảng 100 ngàn người bị thiếu AAT. Tuổi khởi phát bị khí phế thủng do thiếu AAT
là sớm hơn do hút thuốc lá. Hút thuốc lá sẽ làm nặng lên đáng kể tình trạng khí
phế thủng ở người bị thiếu AAT.
Khí phế thủng trầm trọng thế nào?
Khí phế
thủng thường xuất hiện sau 45 tuổi, nghĩa là ở độ tuổi mà ta có thể làm được
nhiều thứ cho gia đình và xã hội. Ở xứ ta, đàn ông hút thuốc lá nhiều hơn phụ nữ
nên tỷ lệ bị khí phế thủng ở nam giới cũng cao hơn.
Khí phế thủng cùng với
viêm phế quản mạn tính tạo ra bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, là nguyên nhân gây
tử vong đứng hàng “top ten” ở các nước phát triển cũng như đang phát
triển.
Khí phế thủng phát triển như thế nào?
Phế nang là
nơi mà oxygen (được ta hít vào từ không khí) trao đổi với khí CO2 của máu ở phổi
(CO2 được sinh ra qua quá trình chuyển hóa của các tế bào, được máu vận chuyển
từ tế bào về phổi). Kết quả của sự trao đổi này là oxygen từ không khí được đi
vào máu và CO2 từ máu sẽ được thải ra ngoài. Khí phế thủng bắt đầu với sự phá
hủy phế nang trong phổi. Sư phá hủy này làm cho vách của các phế nang mỏng đi và
dễ vỡ. Tổn thương phế nang không thể hồi phục được và tạo ra các “lỗ trống” vĩnh
viễn, thường ở thùy dưới của phổi. Đặc điểm này trên phim X quang là phần thấp
của phổi “đen” hơn phần trên của phổi do bị ứ khí nhiều hơn.
Khi các phế nang
bị phá hủy, phổi sẽ cung cấp ít oxygen cho máu, máu đem oxygen đến mô giảm đi và
kết quả là bệnh nhân sẽ bị thở ngắn. Phổi có tính năng đàn hồi vốn rất quan
trọng trong việc giữ cho phế quản “mở” ra. Khi phổi bị mất tính năng đàn hồi,
bệnh nhân bị khó thở, đặc biệt là khó thở khi thở ra. Cũng do phổi mất tính đàn
hồi, phế quản không còn thông thoáng nên sẽ bị ứ các chất tiết làm bệnh nhân
phải ho để tống những chất này ra ngoài.


Hình ảnh khí phế thủng: A: Khí phế thủng trung tâm
tiểu thùy; B: khí phế thủng toàn tiểu thùy

Điều trị khí phế thủng
Mục đích của điều trị là làm giảm
triệu chứng và ngăn chặn bệnh tiến triển, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng
phụ do thuốc gây ra. Điều trị bao gồm, ngưng hút thuốc lá, vì đó là yếu tố quan
trọng nhất giúp cho phổi khỏe mạnh. Các thuốc giãn phế quản sẽ giúp cho phế quản
được “mở” tốt hơn, giải quyết tình trạng khó thở cũng như hỗ trợ tống đờm ra
ngoài. Các thuốc này có thể cho qua đường hít dạng khí dung hay đường uống.
Corticosteroid có thể dùng để hít trong điều trị dự phòng hay uống (hoặc tiêm)
trong điều trị cơn cấp. Khi bị cơn cấp có thể phải dùng thuốc kháng sinh khi
nghi ngờ bị nhiễm trùng. Tập thể dục bao gồm tập thể dục thông thường (tốt nhất
là đi bộ) và tập thở để giúp cho cơ hô hấp được khỏe mạnh. Tập thở bước đầu nên
được hướng dẫn bởi chuyên viên vật lý trị liệu chuyên về hô hấp (có thể liên hệ
ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch). Thuốc ức chế men alpha 1-proteinase chỉ sử dụng ở
bệnh nhân bị khí phế thủng do thiếu AAT, không nên sử dụng cho người bị khí phế
thủng do các nguyên nhân khác. Phẫu thuật giảm thể tích phổi và ghép phổi được
cân nhắc rất kỹ lưỡng bởi thầy thuốc chuyên khoa về lồng ngực.
Dự
phòng khí phế thủng

Các nhà nghiên cứu thấy rằng bỏ hẳn hút thuốc lá
có thể dự phòng cũng như làm giảm tiến triển khí phế thủng. Kiểm soát các yếu tố
môi trường khác, chẳng hạn ô nhiễm không khí, cũng có thể giúp ngăn chặn khí phế
thủng.
Trong trường hợp đã bị khí phế thủng, người bệnh cần tuân thủ các
hướng dẫn của bác sĩ hô hấp để làm giảm thiểu số lần lên cơn cấp và cơn cấp nếu
có xảy ra cũng nhẹ. Duy trì thói quen dinh dưỡng thích hợp, ngủ đủ giấc, tập thể
dục đều đặn để giữ gìn sức khỏe và tăng sức đề kháng với vi trùng. Ngay khi thấy
có dấu hiệu bị cảm lạnh hay viêm nhiễm đường hô hấp trên (chảy mũi, hắt hơi, đau
họng…) là cần đến bác sĩ ngay. Viêm nhiễm đường hô hấp có thể làm trầm trọng các
triệu chứng khí phế thủng. Để đề phòng viêm nhiễm đường hô hấp, nên chủng ngừa
cúm và phế cầu khuẩn (Pneumocoque).
Cuối cùng, hãy nhớ rằng, không hút thuốc
lá. Đa số những người bị khí phế thủng là người hút thuốc lá. Khi đã bị khí phế
thủng, tiếp tục hút thuốc sẽ làm tình trạng bệnh nặng thêm, đặc biệt ở những
người bị khí phế thủng do thiếu AAT.
Khí phế thủng là một bệnh nghiêm trọng.
Khi tổn thương phổi kéo dài, có thể dẫn đến tâm phế mạn (bệnh tim do bệnh phổi
mạn tính gây ra), một bệnh ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của bệnh nhân và
việc điều trị là đã muộn.
Bác sĩ Nguyễn Hoàng Quân (Theo DNSG Cuối Tuần)
avatar
TuanCan
Members

Tổng số bài gửi : 36
Reputation : 0
Registration date : 06/01/2008

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: khí phế thủng là gì

Bài gửi by TuanCan on 5/4/2010, 22:41

Trầm cảm và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính


Mùa đông thường thiếu ánh nắng, cây cỏ ủ ê nên dễ làm cho con người bị trầm
cảm hơn. Trong tiết trời lạnh lẽo, người bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng có
nguy cơ bị nặng hơn. Hai chứng bệnh này liệu có liên quan với nhau không?
Trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc,
giảm khí sắc, là một căn bệnh thật sự mà nguyên nhân có thể là do mất cân bằng
các hóa chất trong não.
Có nhiều yếu tố giữ vai trò trong việc gây ra trầm cảm: di
truyền, môi trường, các biến cố trong cuộc sống, một số bệnh, và cách mà con
người phản ứng với những việc xảy ra trong cuộc sống của họ.
Trầm cảm còn
được xem là một bệnh di truyền. Di truyền là một yếu tố gây trầm cảm nhưng phải
có các biến cố trong cuộc sống kích hoạt trầm cảm, chẳng hạn bị mất việc, thất
vọng lớn, có người thân bị chết… Môi trường gia đình và xã hội căng thẳng có thể
gây ảnh hưởng đến sự tự tin và dẫn đến trầm cảm. Sử dụng và lạm dụng rượu, ma
túy… có thể làm thay đổi sự cân bằng các hóa chất trong não và gây ra trầm cảm.
Một số bệnh (chẳng hạn bệnh suy chức năng tuyến giáp trạng) có thể ảnh hưởng đến
sự cân bằng nội tiết tố, vì vậy có thể ảnh hưởng trên tính khí con
người.
Người bị trầm cảm có thể có những triệu chứng sau:
• Tâm trạng
bị đè nén: cảm thấy buồn bã, trống rỗng hay thường xuyên khóc.
• Giảm hứng
thú với tất cả hay hầu như tất cả các hoạt động hàng ngày.
• Thay đổi thể
trạng: tăng hoặc giảm cân thái quá.
• Rối loạn giấc ngủ: mất ngủ hoặc ngủ
quá nhiều.
• Mất năng lượng và luôn cảm thấy mệt mỏi.
• Luôn muốn xa
lánh bạn bè và gia đình.
• Dễ bị kích thích, giận dữ, lo lắng.

Không có khả năng tập trung tư tưởng.
• Cảm thấy đau nhức nhưng không tìm
ra bệnh lý gì gây đau nhức.
• Nghĩ đến cái chết hay có ý đồ tự tử.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
Một cách ngắn gọn,
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng đường dẫn khí
của hệ hô hấp dưới (các phế quản) bị tắc nghẽn, gây khó thở, nhưng không phải là
hen suyễn. Giới hạn dòng khí thường có tính chất tiến triển và đi kèm với đáp
ứng viêm bất thường của phổi khi tiếp xúc với các chất độc hại. Khác với hen
suyễn, giới hạn dòng khí trong COPD là không thể hoàn toàn hồi phục
được.
• Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất gây COPD. Yếu tố
nguy cơ thuộc về di truyền được ghi nhận nhiều nhất là sự thiếu hụt trầm trọng
alpha-1 antitrypsin. Những nguy cơ khác là bụi và hóa chất tại nơi công việc
(khí hơi, chất kích thích và khói); ô nhiễm không khí trong nhà do khí đốt sử
dụng để nấu ăn và sưởi ấm; ô nhiễm không khí ngoài, nhất là tại những thành phố
công nghiệp và nạn kẹt xe trầm trọng liên quan đến tổng các chất được hít vào mà
một người hay gặp phải trong đời.
Thêm vào đó, mọi yếu tố ảnh hưởng sự phát
triển của phổi trong thời kỳ bào thai và thời niên thiếu (sinh thiếu cân, bị
nhiễm trùng đường hô hấp,…) đều có khả năng gia tăng nguy cơ phát triển
COPD.
Triệu chứng của COPD là ho, khạc đàm và khó thở. Thời gian đầu, hiện
tượng khó thở xảy ra khi gắng sức (ví dụ khi đi cầu thang lên lầu) sau đó tình
trạng nặng lên, bệnh nhân khó thở ngay cả lúc nghỉ ngơi.
Đợt cấp COPD là tình
trạng bệnh nhân COPD đang ổn định bỗng bị rơi vào cơn diễn tiến xấu với các
triệu chứng nặng nề hơn, phải được điều trị tích cực tại bệnh viện mới tránh
được tử vong.
Trầm cảm có thể làm nặng tình trạng COPD
Tỷ lệ người bị
COPD đồng thời mắc bệnh trầm cảm ước tính trong khoảng 10 - 60%, gặp nhiều nhất
ở những bệnh nhân COPD nặng phải thở oxy thường xuyên tại nhà. Những vấn đề liên
quan của trầm cảm với COPD được ghi nhận như sau:
• Trầm cảm làm tăng nguy
cơ đợt cấp COPD lên hơn 1,5 lần.
• Triệu chứng trầm cảm nặng nề hơn đi kèm
với nguy cơ cao đợt cấp COPD và nhập viện do COPD.
• Trầm cảm làm tăng
nguy cơ nhập viện của bệnh nhân COPD.
• Thời gian nằm viện lâu hơn ở những
bệnh nhân COPD có bị trầm cảm.
Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Quân (theo DNSG Cuối Tuần)
avatar
TuanCan
Members

Tổng số bài gửi : 36
Reputation : 0
Registration date : 06/01/2008

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết