DIỄN ĐÀN KỸ THUẬT VIỆT ĐỨC - KIỂU MẪU
CHÀO MỪNG CÁC BẠN TRỞ VỀ MÁI TRƯỜNG XƯA ...

Khái quát bệnh viêm gan do virus

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Khái quát bệnh viêm gan do virus

Bài gửi by manhdung1111 on 3/11/2017, 19:30

Ở Việt Nam, ước tính có khoảng 8 triệu người bị nhiễm virus viêm gan B hoặc C và ung thư gan là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở nam giới.

Trên toàn cầu, khoảng 500 triệu người, hoặc nói cách khác cứ 12 người thì có một người nhiễm virus viêm gan B hoặc C.

Ước tính có khoảng 57% các trường hợp xơ gan và 78% các trường hợp ung thư gan do nhiễm virus B hoặc C.

Viêm gan B hoặc C cũng lấy đi sinh mạng của khoảng một triệu người mỗi năm.

Người mắc bệnh viêm gan nếu không được điều trị và không được kiểm soát, viêm gan B hoặc C có thể dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan.

1. Viêm gan do virus là gì?


                       
                                           Viêm gan do virus (Ảnh minh họa)

Viêm gan do virus là tình trạng viêm gan do một trong 5 loại virus viêm gan gây ra, được gọi là các loại A, B, C, D và E. Viêm gan B và C được quan tâm đặc biệt do phần lớn người bị nhiễm hai loại virus này không biểu hiện triệu chứng ở giai đoạn sớm của bệnh và chỉ biết mình mắc bệnh khi thấy ốm dai dẳng có thể tới cả vài chục năm sau khi bị nhiễm virus.

Các đường lây truyền của các loại viêm gan rất khác nhau ( bệnh gan có lây không? ). Viêm gan B, C và D lây truyền qua máu của người bị nhiễm bệnh; viêm gan B và C còn lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn. Viêm gan A và E thường lây truyền qua nguồn nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm.

Viêm gan do virus thường phòng ngừa đượcvà có thể điều trị được hoặc chữa khỏi. Nếu biết được tình trạng của mình, những người có nguy cơ mắc viêm gan B và C mãn tính có thể tự bảo vệ bản thân và những người khác. Tất cả những trẻ sơ sinh cần được tiêm một liều vaccine viêm gan B trong vòng 24h sau khi sinh và 3 liều bổ sung lúc 2, 3 và 4 tháng tuổi theo lịch tiêm chủng. Những liều vaccin này làm giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh gan mãn tính trong cuộc đời của trẻ về sau.

2. Cơ chế bệnh sinh

                               
                                                     Cơ chế bệnh sinh (Ảnh minh họa)
Quá trình sinh bệnh có thể chia ra các thời kỳ sau:
Thời kỳ thâm nhập của virus:
Viêm gan do virus và viêm gan E thâm nhập qua đường tiêu hóa; virus viêm gan B ( Cách điều trị viêm gan B hiệu quả nhất), C, D thâm nhập theo đường máu.

Thời kỳ nhân lên của virus:
Tại các tổ chức của đường tiêu hóa và sau đó là hạch lympo mạc treo, virus được nhân lên Do tác động của virus đến các tổ chức này làm tăng tính thấm của tế bào, thoái hoá – hoại tử tổ chức và tạo ra những biến đổi không đặc hiệu, đặc biệt là ở các hạch lympho (trong 2 thời kỳ trên chưa có biểu hiện triệu chứng bệnh lý).

Thời kỳ nhiễm virus huyết tiên phát
(tương ứng với thời kỳ khởi phát trên lâm sàng): Virus từ hạch lympho vào máu gây ra phản ứng của cơ thể biểu hiện bằng sốt.

Thời kỳ lan tràn tổ chức:
Virus từ máu thâm nhập vào tất cả các cơ quan mà chủ yếu là gan. Quan trọng nhất trong thời kỳ này là virut gây tổn thương gan. Tổn thương gan biểu hiện ở 3 mặt: Phân huỷ tế bào nhu mô gan, tổn thương tế bào trung diệp và ứ tắc dịch mật. Trên lâm sàng, thời kỳ này tương ứng với thời kỳ toàn phát của bệnh.

Thời kỳ nhiễm virus huyết thứ phát:
Virus từ gan trở lại máu gây nên những đợt bột phát, hiện tượng nhiễm độc dị ứng, phát sinh biến chứng và tái phát.

3. Các thời kỳ của bệnh

Các triệu chứng bệnh gan.
Thời kỳ nung bệnh:  dài hay ngắn tuỳ thuộc vào căn nguyên. Thời kỳ này chưa có triệu chứng lâm sàng.

Thời kỳ khởi phát (thời kỳ trước vàng da): cách khởi phát của bệnh viêm gan do virus rất đa dạng. Có thể chia ra các kiểu khởi phát sau:

Kiểu rối loạn tiêu hóa: bẹnh nhân có chán ăn, sợ mỡ, buồn nôn, nôn, đau bụng và đôi khi rối loạn đại tiện; các triệu chứng này xuất hiện cùng với sốt nhẹ hoặc vừa, kéo dài trong một tuần.
Kiểu viêm khớp: đau các khớp nhưng không có biến dạng tại khớp.
Kiểu viêm xuất tiết (kiểu giả cúm): bệnh nhân sổ mũi, đau họng, ho khan cùng với sốt.
Kiểu suy nhược thần kinh: Bệnh nhân mệt mỏi, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ (có thể ở trạng thái ức chế hoặc kích thích).
Kiểu hỗn hợp: gồm nhiều triệu chứng lẫn lộn của các kiểu khởi phát trên.
Thời kỳ toàn phát (thời kỳ vàng da): bắt đầu vào thời kỳ vàng da bệnh nhân hầu như hết sốt. Ở mức độ nhẹ và vừa bệnh nhân thường thấy dễ chịu hẳn lên, ăn được, hết đau khớp,… Ngược lại, với những bệnh nhân mức độ nặng bước vào thời kỳ vàng da các triệu chứng bệnh phát triển và nặng hẳn lên: gan to, đau, một số trường hợp có lách to, chán ăn, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa… Xét nghiệm thấy enzyme transaminase tăng cao, đặc biệt là SGPT (hay ALT), Bilirubin máu toàn phần tăng mà chủ yếu là Bilirubin trực tiếp, phosphotaza kiềm tăng ở những trường hợp tắc mật, urobilinogen nước tiểu đang thành (+) chuyển thành (-) tính. Xét nghiệm công thức máu ít biến đổi.

Thời kỳ thoái lui và hồi phục: thường bắt đàu bằng hiện tượng đa niệu. Các triệu chứng lâm sàng cùng với các rối loạn sinh hóa bắt đầu giảm. Bệnh nhân cảm thấy dễ chịu, các triệu chứng của bệnh mất dần, ăn ngủ được, nước tiểu trong, gan thu dần về bình thường, các xét nghiệm transaminase, bilirubin và các chỉ tiêu hóa sinh khác dần trở về bình thường. Tuy vậy, cảm giác mệt mỏi, tức, nặng ở vùng gan nhất là sau khi ăn có thể vẫn kéo dài.

[INDENT][INDENT][INDENT][INDENT]Nguồn: Tổng hợp
[/INDENT][/INDENT][/INDENT][/INDENT]

manhdung1111

Tổng số bài gửi : 18
Age : 19
Reputation : 0
Registration date : 25/10/2017

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết